Hiển thị các bài đăng có nhãn phòng bệnh hơn chữa bệnh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn phòng bệnh hơn chữa bệnh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 29 tháng 9, 2014

bí quyết: 7 thói quen tốt cho sức khỏe và sự dẻo dai của cả thể chất lẫn tinh thần

1. Nghỉ ngơi đúng cách: đi ngủ lúc 10.00, loại bỏ tất cả các nguồn sáng để cơ thể tự sản sinh melatonine cho một giấc ngủ sâu.
 

2. Dinh dưỡng hợp lý: đầy đủ vitamine, chất khoáng. Không ăn khuya. Giảm thức ăn từ động vật, tăng cường rau củ và đậu đỗ.
 

3. Suy nghĩ tích cực: giúp hệ miễn nhiễm hoạt động tốt hơn, tự bản thân cảm thấy thoải mái hơn
 

4. Tắm nước lạnh: tắm nóng trước, sau đó tắm lạnh nhất có thể (trong từ 5 đến 10 phút) giúp máu lưu thông đến các tế bào bề mặt và kiềm hóa dòng máu.
 

5. Tập thể dục: vạn vật đều vận động không ngừng, con người không nằm ngoài qui luật. Nên thường xuyên vận động hợp lý để tăng cường trao đổi chất, giúp cơ thể loại bỏ độc tố và cặn bã.

6. Massage các huyệt đạo: xoa bóp giúp thông khí huyết, giữ ấm cơ thể và tăng cường chuyển hóa.


7. Soi chiếu nội tâm thường xuyên: đây là cách để tự trưởng thành. Trong cuộc sống đầy áp lực thì quán chiếu là cách tốt nhất để giảm thiểu stress, tăng khả năng nhận thức, giải quyết thấu đáo vấn đề, sắp xếp cuộc sống và các mối quan hệ được hòa ái nhất.

Nam mô A Di Đà Phật _()_

Thứ Ba, 8 tháng 7, 2014

Hại NÃO nhanh nhất = cách nào ?

1. Không ăn sáng
2. Ăn quá nhiều
3. Hút thuốc
4. Ăn quá nhiều đường
5. Thiếu ngủ lâu ngày
6. Trùm đầu khi ngủ
7. Làm việc khi bị ốm hoặc vừa qua cơn bệnh
8. Lười suy nghĩ
9. Ít giao tiếp
10. Ít vận động
11. Uống nhiều rượu

thức ăn tốt cho não:

các loại đậu đỗ, hạt (lạc, vừng, hướng dương)
rau: màu đậm (xanh, vàng, đỏ ...)
quả: bơ, lựu, dâu, ôliu
cá béo như cá hồi, cá mòi, cá trích (sardine)
đồ uống: trà xanh, cacao
ngũ cốc lứt
các câu đố, các bài toán vui
vận động hợp lý

A Di Đà Phật _(*)_

Thứ Bảy, 14 tháng 12, 2013

Hại GAN nhanh nhất = cách nào ?

1. Đi ngủ muộn và thức dậy muộn
2. Không đi tiểu sau khi ngủ dậy
3. Ăn quá nhiều
4. Bỏ bữa sáng
5. Uống nhiều thuốc (tây)
6. Ăn thức ăn có quá nhiều chất bảo quản, phụ gia thực phẩm, màu thực phẩm và chất tạo ngọt.
7. Ăn dầu rán kém chất lượng. Dùng quá nhiều dầu khi rán (chiên) - xào, kể cả loại chất lượng tốt nhất như dầu oliu cũng không nên lạm dụng. Ăn đồ rán khi người mệt mỏi.
8. Ăn quá nhiều đồ sống cũng hại gan.
9. Đồ uống có cồn.
10. Ăn thức ăn bị mốc, đặc biệt là ngũ cốc và lạc mốc.

Thực phẩm bổ gan:

gia vị: tỏi, nghệ
quả : chanh, bưởi, bơ
rau: các loại rau xanh lá, hoa lơ xanh, hoa atiso
hạt: vừng, óc chó ...
trà: trà ta, trà xanh, trà bancha, trà gạo lứt rang, atiso, diệp hạ châu (chó đẻ răng cưa)

A Di Đà Phật _(*)_

Thứ Tư, 11 tháng 12, 2013

TẠI SAO ăn GẠO LỨT ?

hôm trước nói chuyện với một người bạn về thực phẩm và dinh dưỡng, bạn hỏi tôi "bị bệnh gì mà phải ăn gạo lứt?" câu hỏi của bạn làm tôi quá ngạc nhiên và hơi giật mình !

PHẢI ăn hay ĐƯỢC ăn gạo lứt ? với tôi, GẠO LỨT là lựa chọn đúng đắn và sáng suốt cho sức khỏe của cả gia đình. Tại sao?

"Gạo lứt là loại gạo chỉ vừa mới bóc đi lớp vỏ trấu, vẫn còn lớp cám bao bọc bên ngoài. Nếu giã sạch lớp cám này sẽ cho ra gạo trắng. Lớp cám của hạt gạo lứt chứa nhiều dưỡng chất quan trọng như: vitamin E, vitamin B1, B3, B6, ma-giê, man-gan, chất xơ, sắt…

Ở gạo trắng, qua quá trình xay, giã, 67% vitamin B3, 80% vitamin B1, 90% vitamin B6, một nửa lượng man-gan và hầu hết chất xơ đã bị mất đi.

Nhiều nghiên cứu khoa học chứng minh rằng trong lớp cám của gạo lứt chứa một chất dầu đặc biệt và là nguồn chất xơ dồi dào có tác dụng điều hòa huyết áp, làm giảm cholesterol xấu, giúp ngăn ngừa các bệnh về tim mạch, giảm nguy cơ mắc bệnh tim, ung thư và bệnh tiểu đường."

Gạo lứt quân bình hơn và "toàn diện" hơn gạo trắng. Khi vào cơ thể nó "cháy chậm" hơn vì vậy không gây tăng đột ngột lượng đường trong máu. Gạo lứt cứng nên khi ăn phải nhai kỹ hơn, giúp tuyến nước bọt hoạt động, giảm tải cho dạ dầy.

Thế nên, để giữ thân thể khỏe mạnh, tâm trí bình hòa thì gạo lứt là lựa chọn tốt nhất.

nam mô  A Di Đà Phật _(*)_

Thứ Hai, 10 tháng 10, 2011

Ô MAI MƠ, MẬN GIÚP GIỮ GÌN SỰ TƯƠI TRẺ CHO CƠ THỂ


Mặc dù rất phổ biến và được bán rộng rãi khắp nơi, ít ai biết giá trị dinh dưỡng của các loại quả trong họ nhà mơ-mai-mận này, đặc biệt là tác dụng chống lão hóa, giúp cơ thể trẻ lâu hơn.

Mơ, mai, mận là những loại quả mùa hè, thường được dùng ngâm đường để pha nước uống giải khát, làm ô mai hoặc ăn tươi.

Quả mơ, mai, hay mận đều có chứa nhiều protein, chất béo, carbohydrate, các muối vô cơ, vitamin C, canxi, phốt pho, sắt, kali, ngoài ra chúng cũng giàu axit malic, axit citric, axit succinic… Hơn nữa, trong các loại quả này còn có thành phần kháng khuẩn quan trọng có hiệu quả chống lại các trực khuẩn gây bệnh kiết lị và và có tác dụng ức chế nhiều loại nấm trên da, giúp da đẹp hơn.

Y học hiện đại đã chứng minh rằng mận không có tác dụng chống ung thư nhưng có thể cải thiện chức năng tế bào, tăng thực bào, ức chế tế bào ung thư. Quả mai, mận cũng được sử dụng trong điều trị ung thư thực quản, ung thư dạ dày, ung thư đại trực tràng, ung thư bàng quang, ung thư da, ung thư dương vật, và liệu pháp bổ trợ.


Một số tác dụng cụ thể của các loại quả mơ, mai, mận:

1. Bảo vệ hệ tiêu hóa: các thành phần có trong loại quả này có chức năng khử trùng và ngăn chặn sự phát triển những tác dụng xấu của thực phẩm khi vào trong ruột.

2. Loại bỏ táo bón: quả mai có chứa một lượng axit malic có tác dụng tác động tới việc hình thành phân để bài tiết tốt.

3. Tăng cảm giác ngon miệng: không cần phải dùng đến phương thuốc trị bệnh nào, chỉ cần ăn các quả mai, mận trong một thời gian ngắn sẽ lấy lại được cảm giác ngon miệng và giúp các cơ quan trong cơ thể hoạt động đúng các chức năng của nó. Các loại quả này cũng có tác dụng loại bỏ sự chán ăn do stress, ăn quá nhiều. Mỗi ngày chỉ cần ăn một vài quả mận là đã có thể tăng cảm giác thèm ăn cho những người chán ăn, nhất là trong ngày hè nắng nóng này.

4. Chống lão hóa: chẳng ai muốn mình bị già đi nhanh chóng, thậm chí già hơn nhiều so với tuổi. Nói đơn giản là không muốn bị lão hóa. Để quá trình này diễn ra chậm hơn, hãy ăn ô mai mơ, mận hàng ngày. Ăn ô mai sẽ kích thích sự tiết nội tiết tố mang tai, và điều này có thể ngăn ngừa sự lão hóa các hormone.

5. Tăng năng lượng: Khi thanh lọc máu, sự trao đổi chất tăng lên, cơ thể tự nhiên sẽ khôi phục lại năng lượng. Axit citric có trong quả các loại quả này giúp hấp thụ vitamin và các enzym, và có thể ngăn ngừa bệnh tật và giảm mệt mỏi.

Riêng bên Thực Dưỡng luôn có các loại ô mai mơ lâu năm (từ hai năm trở ra). Đây thực sự là một thức ăn kỳ diệu mà gia đình tôi luôn luôn có sẵn. Để làm gì ư ? Nấu cùng cháo, nấu soup, nấu canh, nấu bột sắn cùng củ sen hoặc nấu trà ...  đơn giản nhất là ngậm một quả mỗi ngày cũng làm cho hệ tiêu hóa mạnh mẽ và sạch sẽ hơn. Mọi người thử mà xem, tác dụng vô cùng rõ rệt đấy !



Thứ Sáu, 27 tháng 5, 2011

BÍ QUYẾT: ĂN UỐNG ĐỂ TRẺ VÀ KHỎE LÂU DÀI


Rút ra từ cuộc sống và trải nghiệm:


Bí quyết thứ nhất, quan trọng nhất, đó là ĂN VỪA ĐỦ. Những người ham hố ăn uống rất chóng già, vì thức ăn đưa vào làm cho cơ thể phải tiêu hao rất nhiều năng lượng để tiêu hóa. Khi vừa đủ, thì cân bằng, khi nhiều thì tích lại thành u, tạo viêm và tạo mỡ thừa trong các thành mạch (gây xơ, vữa, tăng mỡ máu v.v...)
Mỗi người có một “cái cân” riêng, vì vậy vừa đủ nghĩa là “ngay khi cảm thấy lưng lửng” – 75% đến 80% dạ dầy. Nên đứng dậy rời khỏi mâm cơm, dù vẫn còn thèm ăn.

Bí quyết thứ hai, ĂN CHAY. Rau, củ, đậu, đỗ, ngô, khoai, sắn, rong tảo, hoa quả ... vốn là những thức ăn đơn giản, dễ tiêu hóa & ít tốn năng lượng để tiêu hóa, mang ít chất độc hại hơn thực phẩm gốc động vật (đặc biệt là các chất độc sinh ra trong quá trình chăn nuôi, giết mổ, chế biến ...). Những thức ăn này giàu chất xơ nên giúp cơ thể thải độc vô cùng hiệu quả.

Bí quyết thứ ba, sử dụng NGŨ CỐC NGUYÊN CÁM, và càng nguyên hạt càng tốt. Ngũ cốc nguyên cám chứa nhiều vitamine và chất khoáng, rất tốt cho sự hấp thụ cân bằng của cơ thế. Chúng còn chứa nhiều chất xơ, giúp hệ tiêu hóa làm việc trơn tru và giúp thải loại mỡ thừa bám ở thành mạch cũng như các chất độc trong máu ra ngoài. 

Bí quyết thứ tư: giảm thiểu tiến đến LOẠI BỎ các loại ĐƯỜNG, mật ong... ra khỏi thực đơn. Các chất ngọt này trở thành acid trong cơ thể, và chính là một trong các nguyên nhân hàng đầu dẫn đến nhăn da và già sớm, vì acid thích lũy trong cơ thể gây ra quá trình oxy hóa dòng máu, dẫn đến lão hóa nhanh chóng (lão hóa là một tiến trình oxy hóa).

Bí quyết thứ năm, uống đủ nước, vận động đủ & thích hợp, ngoài trời. Mỗi khi bạn ra được mồ hôi là trái thận của bạn cảm ơn bạn vô cùng, vì nó đỡ phải làm việc nhiều. Ánh sáng mặt trời là vô cùng cần thiết cho chuyển hóa của cơ thể, vì vậy nên tận dụng ánh sáng mặt trời khi có thể.


Chúc tất cả một cuộc sống khỏe mạnh, trẻ trung và luôn bình yên trong tâm hồn.

Nam Mô A Di Đà Phật.

Chủ Nhật, 8 tháng 5, 2011

TẠI SAO ĂN THỊT ĐỘNG VẬT CÓ NGUY CƠ BỊ BỆNH?

Theo các nhà khoa học, có sáu yếu tố mà những người ăn thịt có nguy cơ mắc bệnh, phần lớn là bệnh tim mạch và ung thư:
(1) Trong thịt động vật và những phó sản liên hệ như trứng, bơ, pho mát và sữa có chứa nhiều chất cholesterol và chất béo bão hòa 
(2) Thịt động vật không có chất xơ và carbon hydrate 
(3) Tiêu thụ thịt động vật và các sản phẩm bơ sữa làm yếu hệ tiêu hóa dẫn đến nhiều dạng rối loạn đường ruột 
(4) Chất độc của các loại thức ăn do công nghiệp chế biến và phương pháp nuôi súc vật theo kiểu hiện đại mang lại 
(5) Nhiễm trùng trong thịt động vật, và 
(6) Chất đạm protein thịt động vật. 


Cụ thể: 
(1) Cholesterol và chất béo bão hòa: Cholesterol chỉ có trong thịt, trong lòng đỏ trứng, bơ, pho mát, sữa và tôm cá, mà không có trong các thực phẩm có nguồn gốc thực vật. 
Do cholesterol không thể hòa tan trực tiếp vào máu, nên tự nó tìm cách gắn vào các protein, vốn có thể tan được, để đi vào máu. Tuy nhiên, lượng cholesterol cao, nhất là loại cholesterol xấu LDL luôn luôn có khuynh hướng tích tụ chung quanh các thành động mạch, gây ra hiện tượng co thắt động mạch và làm hạn chế sự lưu thông của dòng máu. 
Ngoài vấn đề sinh ra các bệnh liên hệ đến tim mạch, nhiều cholesterol và chất béo bão hòa còn có khuynh hướng thúc đẩy một số tế bào ung thư nào đó phát sinh, nhất là ung thư vú. Sự chuyển hóa thành năng lượng của chúng có tác dụng đối với kích thích tố nữ, mà kích thích tố nữ lại có tác dụng thúc đẩy sinh ra ung thư vú, ung thư tử cung và ung thư buồng trứng. 
Chất béo, nhất là chất béo bão hòa dư thừa có thể bị tích tụ ở gan, đây là nguyên nhân chính gây ra ung thư gan. Tưởng cũng cần nói thêm, cơ thể chúng ta tự sản xuất đủ lượng cholesterol cần thiết hàng ngày mà không cần tiêu thụ thêm các thực phẩm thịt cá từ bên ngoài đem vào. 
Bằng Chứng Y Khoa:
- Một công trình nghiên cứu lớn nhất thế giới được thực hiện từ năm 1949 và vẫn con đang tiếp diễn đến ngày nay với 5.000 người nam và người nữ tham dự ở Framingham, Massachusetts. Trong số những kết quả được công bố là những người đàn ông 50 tuổi có lượng cholesterol cao hơn 295 mg/dl có mức độ nguy cơ lâm bệnh nhồi máu cơ tim nhiều hơn 9 lần những người có lượng cholesterol 200 mg/dl. Ngoài ra họ không tìm thấy một người nào có lượng cholesterol dưới 150 mg/dl bị nhồi máu cơ tim. 
- Trong nghiên cứu thí nghiệm với 557 ca bệnh và 826 ca thí nghiệm năm 1981 các nhà nghiên cứu đã cho biết nguy cơ liên quan đến ung thư vú tăng lên cùng với việc tiêu thụ thịt bò và các loại thịt khác. 
- Trong một nghiên cứu lớn khác tại Pháp năm 1986 với hàng ngàn phụ nữ cho thấy nguy cơ gia tăng ung thư vú là do hấp thụ những sản phẩm từ sữa vào cơ thể. Phụ nữ ăn pho mát thường xuyên có nguy cơ mắc bệnh cao hơn 50% so với những người không ăn pho mát. Những phụ nữ uống sữa bò thường xuyên cũng có nguy cơ nhiễm bệnh cao hơn 80%. 
(2)Không Có Chất Xơ Trong Thịt Động Vật: Chất xơ là một chất chỉ có trong thực vật, không có trong thịt động vật. Nó có nhiệm vụ giúp thực phẩm di chuyển dễ dàng trong hệ tiêu hóa và làm giảm lượng cholesterol dư thừa trong máu. Ăn ít chất xơ thường gây nên táo bón, bệnh về sự tiêu hóa và các rối loạn khác. Chất xơ được phân ra làm hai loại, loại hòa tan được (solube fiber) và loại không hòa tan được (insolube fiber). Loại hòa tan có nhiều trong cám gạo (rice bran) và cám yến mạch (oat bran), có khả năng làm giảm cholesterol; còn loại không hòa tan có nhiều trong cám lúa mì (wheat bran), không giúp mấy trong việc giảm cholesterol, nhưng giúp cho nhuận trường. 
Bằng Chứng Y Khoa
- Trong các phòng thí nghiệm, các nhà khoa học của Tổ Chức Y Tế Hoa Kỳ, năm 1991 đã khám phá rằng chế độ ăn uống giầu chất xơ sẽ làm giảm nguy cơ gây ung thư ở chuột khoảng 50%. 
- Hai nhà nghiên cứu khoa học là Drs. E. Graft và J.W. Eaton, cho biết rằng nhiều thực phẩm giầu chất xơ lại có nhiều chất phytate, như đậu nành chẳng hạn. Họ cho rằng những loại thực phẩm này bảo vệ chúng ta khỏi bị bệnh ung thư kết tràng (colon cancer) không những vì chất xơ mà còn vì chất phytate 
- Các nhà khoa học đã báo cáo năm 1980 là sự gia tăng cả hai loại ung thư liên quan đến đường ruột, đều do sự gia tăng calories, cholesterol, chất béo và chất đạm thịt. Nguy cơ cao nhất vẫn là chất béo bão hòa. 
- Năm 1974 những nhà nghiên cứu của Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ cho biết có sự liên hệ ung thư đường ruột với mức tiêu thụ thịt bò cao. Bằng chứng cho biết rằng thịt, nhất là thịt bò, là món gây nên các khối u ác tính trong ruột già. 
- Cuộc nghiên cứu năm 1975 cho biết những con thú trong phòng thí nghiệm được nuôi tới 35% mỡ bò thì có khối u ác tính đường ruột tăng lên đáng kể. 
(3) Tiêu thụ thịt động vật và các sản phẩm bơ sữa làm yếu hệ tiêu hóa dẫn đến nhiều dạng rối loạn đường ruột. Rau đậu và ngũ cốc không bị phân hủy trước khi chúng ta ăn, ngược lại chất đạm thịt động vật bị hư ngay khi con vật vừa bị giết. Để làm ngưng sự phân hủy, người ta đã phải ướp lạnh hay dùng hóa chất, nhưng sự hư rữa sẽ trở lại ngay, khi chúng ta đưa chúng vào bao tử và cho đến khi vào đến đại tràng thì sự thối rưã trở nên nặng và tạo ra những vi sinh độc hại. Đó là chưa kể đến việc tiêu hóa chúng trong hệ thống tiêu hóa con người rất chậm (chậm hơn rau, đậu, mễ cốc và trái cây tới bốn lần), nên rất dễ gây ra tình trạng độc hại, dễ ung thư đường ruột. 
(4) Chất độc của các loại thức ăn do công nghiệp chế biến và phương pháp nuôi súc vật theo kiểu hiện đại mang lại. Một lý do khác nữa là thịt động vật, nhất là thịt động vật được nuôi tại Hoa kỳ và các nước kỹ nghệ tiền tiến, được xử lý với nhiều chất hóa học để làm chúng mau lớn, béo nhanh, tránh bệnh tật. Một số chất trong những chất hóa học này không thể nào tiêu hóa được hết, chúng còn tồn đọng trong thịt và được phát hiện là những hóa chất gây ung thư. Khi phát hiện một con vật có một khối u trong một bộ phận nào đó của cơ thể, họ chỉ cắt bỏ phần đó mà thôi, phần còn lại có thể có tế bào nhiễm ung thư vẫn được tiếp tục sản xuất dưới các hình thức khác như thịt bầm, thịt lát hay hot dogs. Những phần cắt bỏ, tiếc thay, được tập trung lại với những chất phế thải khác của lò sát sinh và hàng tỷ pound phân gà lấy từ các xưởng chăn nuôi gà trộn lại thành thức ăn mới cho heo, bò và gà, bất kể những thức ăn này có nhiễm các mầm mống gây ung thư hay bệnh truyền nhiễm. 
(5) Nhiễm trùng trong thịt động vật: Trung tâm kiểm soát bệnh dịch CDC ở Atlanta ước tính mỗi năm ở Hoa Kỳ có khoảng 80 triệu trường hợp bị mắc bệnh do thực phẩm gây ra, trong số đó có 9000 người chết. Vi khuẩn salmonella gây ra 4 triệu người ngộ độc trong đó có gần 1000 người chết. Vi khuẩn campylobacter, loại vi khuẩn gây ra bệnh viêm cấp tính đường tiêu hóa, gây ra 6 triệu người bị bệnh mỗi năm và có khoảng 400 người chết. Vi khuẩn E-coli, một loại vi khuẩn tìm thấy trong trong thịt bò nhiễm độc của cơ sở sản xuất thịt Hudson Foods và Sara Lee gây ra 250 người chết và làm cho 20 ngàn người lâm bệnh mỗi năm. Trong năm 1994 USDA đã thăm dò và tìm thấy 15% thịt bò có mang vi khuẩn E-coli, 30% thịt gà có vi khuẩn salmonella, và 60 đến 80% thịt gà có vi khuẩn campylobacter. 
Trong các thực phẩm đồ biển cũng có một loại vi khuẩn mang tên Vibrio vulnificus, đã gây ít nhất cho 87 người chết từ năm 1989. Người ta cũng thấy có cả siêu vi khuẩn hepatitis A trong trai sò (shellfish). Chính bác sĩ McDougall nói rằng: "Tôi không khuyên mọi người ăn thịt gà và cá để thay cho thịt bò và heo, bởi vì như vậy không có thay đổi gì hết. Dinh dưỡng như vậy vẫn nguy hiểm vì vẫn nhiều chất béo, nhiều chất cholesterol, không có chất xơ và vẫn có chất độc ô nhiễm". 
(6) Chất đạm thịt động vật (animal protein): Chất đạm thịt động vật có tác dụng nâng cao lượng cholesterol trong máu khi so sánh với chất đạm có nguồn gốc từ ngũ cốc. Một nghiên cứu cho biết là chất đạm thịt bò gia tăng lượng cholesterol trong máu tới 19 phần trăm và áp huyết tâm thu cũng gia tăng theo. 
Nói tóm lại, nguyên nhân gây bệnh tật chính là do ăn thịt động vật, các nội tạng thú vật, cá, tôm, cua, sò ốc, hến và trứng, bơ, sữa, và cũng vì thế, bốn vị bác sĩ nổi tiếng trong giới y khoa thế giới mà chúng tôi đã đề cập đến trong chương trước, đã khuyến cáo chúng ta nên phòng bệnh hơn là chữa bệnh bằng cách từ bỏ ăn thịt cá và thay thế vào đó là ăn rau, đậu, ngũ cốc nguyên chất và trái cây, mà ngày nay người Hoa Kỳ thường gọi là "healthy foods". Khoa học đã chứng minh dinh dưỡng bằng cá thịt không tốt, mang lại nhiều căn bệnh hiểm nghèo như tim mạch, ung thư, tiểu đường, vân vân. 

(trích trong cuốn: Dinh dưỡng ngăn ngừa bệnh tật - Tâm Diệu) 
http://phattuhatinh.com/default.aspx?module=news&ID=257&CatID=73


Nam Mô A Di Đà Phật.

Thứ Bảy, 7 tháng 5, 2011

MÙA HÈ NÊN ĂN UỐNG NHƯ THẾ NÀO ?

Mùa hạ có 3 tháng, tính từ tháng 4 - 6 âm lịch, bắt đầu từ ngày lập hạ cho đến ngày lập thu, bao gồm 6 tiết khí: lập hạ, tiểu mãn, mang chủng, hạ chí, tiểu thử và đại thử. Đây là mùa dương khí vượng nhất trong năm, thời tiết nóng bức và ẩm thấp. Quá trình trao đổi chất trong cơ thể con người diễn ra mạnh mẽ, dương khí phát ra ngoài, âm khí tiềm phục ở trong. Các lỗ chân lông giãn rộng, mồ hôi tiết ra nhiều để điều hòa thân nhiệt nhưng cũng vì thế mà tà khí dễ xâm nhập vào trong. Hệ thống mao mạch ngoại vi cũng giãn ra, khí huyết lưu thông nhanh và mạnh hơn. Công năng của tỳ vị có xu hướng suy giảm vì nóng bức uống nhiều làm cho dịch vị bị pha loãng, quá trình tiêu hóa và hấp thu thức ăn dễ bị rối loạn.

Sách Dưỡng sinh thư đã viết: “Hạ chí hậu thu phân tiền, kỵ thực phì nhi bính, hoắc du tô chi thuộc, thử đẳng vật dữ tửu tương qua quả thực vi tương phỏng, hạ nguyệt đa tật dĩ thử” (mùa hạ nên kiêng ăn đồ béo ngậy, bơ sữa và rượu, những thứ này dễ gây nhiều bệnh tật).

Tiết trời nóng ẩm cũng là điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật phát triển mạnh (Đông y gọi là tà khí) làm cho thực phẩm dễ ôi thiu, biến chất, trong khi đó vì uống nhiều nước dịch dạ dày bị pha loãng nên khả năng sát khuẩn giảm thấp càng làm cho nguy cơ ngộ độc thức ăn tăng cao. Bởi vậy, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm trở nên hết sức cấp bách. Để dự phòng “bệnh tòng nhập khẩu” cần chú ý giữ gìn vệ sinh ăn uống, không dùng thực phẩm ôi thiu, không uống nước lã, nước nhiễm bẩn, rau quả tươi phải được rửa thật sạch...

Đông y cho rằng: Thử (nắng nóng) là chủ khí mùa hạ, là dương tà, tính thăng tán dễ làm hao tổn khí và tân dịch. Thử tà xâm nhập vào cơ thể gây ra nhiều mồ hôi làm tổn thương tân dịch, nếu không kịp thời bù đắp thậm chí có thể làm hao tổn nguyên khí, biểu hiện ra bên ngoài bằng các triệu chứng như mệt lả, khó thở, ngại nói, có khi đột nhiên ngã lăn bất tỉnh (say nắng, say nóng). Hơn nữa, thử thường kiêm với thấp (độ ẩm), thấp là âm tà dễ làm tổn thương dương khí. Đặc điểm của thấp tà là nặng trệ, kết dính, dễ gây thương tổn tỳ dương. Biểu hiện trên lâm sàng bằng các triệu chứng như chân tay tê mỏi, mình mẩy nặng nề, đầu nặng như đeo đá, không muốn ăn, hay đầy bụng, dễ đi lỏng, thậm chí có thể phù nhẹ hai chân...

Bởi vậy, trong mùa hạ, Đông y khuyên nên ăn uống thanh đạm, han chế đồ bổ béo xào rán hoặc sống lạnh để giảm gánh nặng cho tỳ vị. Ngoài ra nên chú trọng dùng nhiều đồ ăn thức uống có tác dụng thanh nhiệt giải thử, lợi niệu trừ thấp như dưa hấu, mướp đắng, dưa chuột, bí đao, đậu xanh, đậu đen, cháo ngũ đậu, cháo ý dĩ, cháo đậu xanh, cháo biển đậu, cháo lá sen, trà nhân trần, trà hoa cúc, trà nụ hoặc lá vối, trà actiso, trà khổ qua... Những ngày quá nóng bức có thể dùng một chút nước lạnh hoặc nước đá để giúp cơ thể giải nhiệt nhưng không được dùng nhiều để tránh làm thương tổn tỳ vị, tạo điều kiện cho thấp tà gây bệnh bên trong.

Khi mồ hôi ra nhiều phải chú ý bổ sung đủ lượng nước đã mất bằng đường ăn uống. Cổ nhân có câu: “Hãn vi tâm dịch” (mồ hôi là dịch của tâm), bởi thế khi mất mồ hôi âm dịch trong cơ thể nói chung và âm dịch trong tạng tâm nói riêng (gọi là tâm âm) cần chú ý trọng dụng những đồ ăn thức uống có công dụng thanh nhiệt dưỡng âm như thạch đen, chè đậu đen, trà mạch môn, nước ép quả lê, nước ép ngó sen, nước mơ, nước mận, nước dâu, trà bát bảo...

Ngoài việc thanh nhiệt giải thử và dưỡng âm, ăn uống trong mùa hạ còn phải hết sức chú ý tránh làm thương tổn tỳ vị. Theo Đông y, các thực phẩm có công dụng phương hương tỉnh tỳ, kiện tỳ hóa thấp, giải thử đều trực tiếp hoặc gián tiếp giữ gìn và nâng cao năng lực hoạt động của tỳ vị, ví như các loại cháo chế từ đậu xanh, đậu côve, bạch biển đậu, ý dĩ, hạt sen, củ mài...; các loại trà hoắc hương, trà nụ vối, trà hương nhu, trà lá sen... Nên chú ý dùng thêm các đồ ăn thức uống có vị chua ngọt, cay thơm để nhằm mục đích khai vị, kích thích cảm giác thèm ăn như các loại canh chua chế từ quả sấu, me, khế, quả dọc, tai chua, quả chay, chua me đất hoa vàng... và các loại nước cam, nước chanh, nước mơ, nước sấu...

Tuy nhiên, cần chú ý không nên dùng quá nhiều đường tinh luyện khi pha chế các loại nước giải khát. Để bảo vệ nguyên khí, cổ nhân khuyên “bảy mươi hai ngày mùa hạ nên bớt vị đắng, tăng vị cay để dưỡng phế khí (Thiên kim yếu phương)”. Bởi vì căn cứ vào quy luật ngũ hành, tâm thuộc hỏa, phế thuộc kim, hoả khắc kim, tâm hỏa quá thịnh sẽ khắc phạt phế kim, vị đắng vào tâm, vị cay vào phế, nếu ăn thêm một ít vị cay thì phế khí sẽ được trợ dưỡng, nếu ăn bớt vị đắng thì tâm hỏa sẽ không quá vượng thịnh mà hại phế khí.


Cuối cùng, trong vấn đề dưỡng sinh ăn uống mùa hạ, Đông y còn có một quan điểm hết sức độc đáo, đó là “xuân hạ dưỡng dương”. Mùa hạ nóng nực tuy phải dùng nhiều đồ ăn thức uống có tác dụng thanh nhiệt giải thử nhưng vẫn cần lấy ôn ấm làm chính để trợ giúp khí dương. Bởi vì, các nhà dưỡng sinh Đông y cho rằng mùa hạ tuy dương khí vượng thịnh bên ngoài nhưng khí âm lại tiềm ẩn bên trong cơ thể, vậy nên “trời tuy nóng chớ tham mát, dưa tuy ngon chớ ăn nhiều”. Nếu không biết giữ gìn dương khí trong mùa hạ thì mùa đông sẽ mắc nhiều bệnh tật, phải biết thuận ứng thiên thời để bồi bổ dương khí, trừ khử âm hàn có như vậy mới gọi là phòng bệnh triệt để. Bởi vậy, trong mùa hạ, việc chọn dùng một số đồ ăn uống có tính ôn bổ cũng là rất cần thiết, đặc biệt đối với những người có bệnh mạn tính và thể chất vốn suy nhược do dương khí kém.

(Theo Sức khỏe và đời sống)

Nam Mô A Di Đà Phật.

ĂN NGŨ CỐC LỨT GIẢM NGUY CƠ CÁC BỆNH TIM MẠCH




NEW YORK (Reuters) - Người Mỹ nên ăn nhiều ngũ cốc nguyên vẹn (whole grains), còn nguyên cám và mầm, để giúp họ giảm những nguy cơ bị nghẽn động mạch, lên cơn đau tim và cơn đột quị, theo lời các nhà nghiên cứu.

Trong một cuộc khảo sát về 7 cuộc nghiên cứu sâu rộng, các chuyên gia thấy rằng sự tiêu thụ nhiều ngũ cốc nguyên vẹn giúp làm giảm những nguy của bệnh tim mạch. Tính trung bình, những người lớn mỗi ngày ăn 2.5 phần (serving) thức ăn từ ngũ cốc nguyên vẹn thì giảm được khoảng 25% sự phát sinh bệnh tim mạch so với những người hiếm khi ăn chúng.

Các chuyên gia tin rằng ngũ cốc nguyên vẹn đem lại phúc lợi cho tim bằng vài cách. Chất xơ và những chất bổ dưỡng khác trong ngũ cốc nguyên vẹn có tác dụng hạ thấp chất cholesterol, làm giảm mức của chất đường trong máu, đồng thời cải thiện chức năng của những huyết quản và giảm chứng viêm trong hệ tuần hoàn.

Nhưng cho tới nay những cuộc khảo sát cho thấy chỉ có một số ít người Mỹ nghe theo lời khuyên hãy ăn 3 phần ngũ cốc nguyên vẹn mỗi ngày, theo lời các tác giả của cuộc nghiên cứu mới. Hơn 40 phần trăm người thành niên ở Hoa Kỳ nói rằng họ không ăn những thứ ngũ cốc nguyên vẹn.

“Nhiều người trong giới tiêu thụ và những chuyên gia y tế không nhận thức về những lợi  ích của ngũ cốc nguyên vẹn đối với sức khỏe,” người cầm đầu cuộc nghiên cứu, Bác Sĩ Philip B. Mellen, thuộc Ðại Học Wake Forest University ở Winston-Salem, North Carolina, nói trong phúc trình.
Một số người cũng thiếu hiểu biết về những gì chứa đựng trong ngũ cốc nguyên vẹn. Chúng gồm có ba thành phần chính: cám (bran) và mầm (germ), là hai thứ giàu chất xơ và những chất bổ dưỡng, và nội nhũ (endosperm) có chứa tinh bột và chất đạm (protein). Ngũ cốc chế biến, như bánh mì trắng, các thứ bánh ngọt, và những thực phẩm ăn vặt (snack foods) được làm từ những thứ bột trắng đã mất cám và mầm.

Trái lại, những ngũ cốc nguyên vẹn - như lúa mạch, lúa mì nguyên vẹn, gạo lứt - còn giữ nguyên cám và mầm rất giầu chất bổ dưỡng.

Căn cứ vào những cuộc khảo sát mới nhất, Bác Sĩ Mellen và các đồng nghiệp cho rằng giới chuyên gia y tế cần nên “tăng gấp đôi” những nỗ lực của họ để thúc đẩy người ta hãy ăn ngũ cốc nguyên vẹn nhiều hơn.

Họ đã báo cáo những kết quả nghiên cứu trên bản trực tuyến của đặc san Nutrition, Metabolism... Cardiovascular Diseases (dinh dưỡng, biến dưỡng và những bệnh tim mạch).

Ðể khảo sát, Bác Sĩ Mellen và các đồng nghiệp đã thu thập những số liệu từ 7 cuộc nghiên cứu sâu rộng liên quan tới hơn 285,000 người đàn ông và đàn bà đã được theo dõi từ 6 tới 15 năm. Tính một cách tổng quát, những người nào ăn nhiều ngũ cốc nguyên vẹn nhất thì giảm được những nguy cơ lên cơn đau tim hoặc đột quỵ, hoặc chết vì những nguyên nhân liên quan tới tim mạch.


Ðiều này đúng sau khi đã xét tới những yếu tố sức khỏe khác, như chế độ dinh dưỡng tổng quát, tập thể dục, sức nặng của thân thể, ghiền hút thuốc lá.

VAI TRÒ CỦA CHẤT XƠ ĐỐI VỚI SỨC KHỎE

Vì vai trò quan trọng đối với sức khỏe con người, chất xơ thực phẩm ngày càng được chú ý nghiên cứu, từ việc dùng chất xơ làm thức ăn chính, thức ăn bổ sung đến việc đưa ra những chế độ ăn giàu chất xơ. Nguồn cung cấp chất xơ duy nhất cho cơ thể là từ các loại rau quả, đậu, hạt, ngũ cốc.


Nguồn cung cấp chất xơ

Chất xơ là chất bã thức ăn còn lại sau khi được tiêu hóa, gồm các chất tạo thành vách tế bào (cellulose, hemicellulose, pectin và lignin) và các chất dự trữ, bài tiết bên trong tế bào (gôm, nhầy). Hiện nay, các chất sáp, cutin, glycoprotein (chất đạm cấu tạo vách tế bào không tiêu hóa được) cũng được xếp vào loại chất xơ thực phẩm.
Chất xơ cung cấp cho cơ thể con người chủ yếu là từ trái cây, rau ăn lá, củ rễ, rau đậu, các loại đậu hạt, ngũ cốc còn lớp vỏ cám, cám gạo. Chất nhầy (là loại chất xơ tan được) có trong rau mồng tơi, rau đay, mướp, thanh long, hoàng tinh, xương sâm, xương sáo (thạch đen), hột é (húng quế), hột é trắng (trà tiên), vỏ hột đười ươi, mủ trôm, rau câu, lá găng... Mỗi loại rau quả chứa loại chất xơ và lượng chất xơ khác nhau. Rau, củ, quả nào càng nhiều bã và càng già thì chứa càng nhiều chất xơ.

Tác dụng của chất xơ

Trước kia, người ta xem chất xơ là một chất trơ không có giá trị dinh dưỡng vì không tiêu hóa được. Nhưng ngày nay, chất xơ được xem có ý nghĩa vô cùng quan trọng.

Tác dụng đáng chú ý nhất của chất xơ là giúp cải thiện chức năng ruột già. Nhờ khả năng ngậm nước mạnh, chất xơ thực phẩm được xem như thuốc nhuận tràng loại tạo khối phân, giúp bình thường hóa tình trạng phân và số lần đi tiêu. Như vậy, tác dụng chính của chất xơ thực phẩm đối với ruột già là chống táo bón và cung cấp năng lượng hoạt động cho tế bào ruột già. Ăn thiếu chất xơ có thể gây rối loạn ruột già. Dùng các loại rau quả có nhiều xơ là một trong những cách tốt nhất để phòng ngừa và điều trị táo bón chức năng.

Chất xơ giúp phòng ngừa tình trạng khó đi tiêu ở bệnh nhân tim mạch, bệnh hậu môn (trĩ, mạch lươn), phụ nữ mang thai... Dùng lâu dài làm giảm được triệu chứng của hội chứng đại tràng kích thích, bệnh túi thừa đại tràng và viêm đại tràng mạn tính; Giảm triệu chứng trong tiêu chảy cấp và giúp điều chỉnh rối loạn hoạt động ruột do mổ ruột già hay hồi tràng.

Các nhà dinh dưỡng khuyên chúng ta nên ăn rau, trái cây hơn là uống nước ép của chúng; Ăn ngũ cốc còn lớp cám hơn là ngũ cốc đã loại bỏ cám. Trung bình, mỗi ngày nên ăn khoảng 2 chén rau đầy (trên 400g). Tác dụng chống táo bón thường thấy rõ sau 24 giờ và đạt mức tối ưu sau 1-3 ngày dùng liên tục. Đây là điều cần chú ý vì hầu hết bệnh nhân táo bón thường nôn nóng, muốn dùng món ăn hay thứ thuốc nào có tác dụng nhanh, mà nhanh - thường không hẳn là tốt, lại dễ gây lệ thuộc.

Tác dụng quan trọng thứ hai của chất xơ thực phẩm là góp phần làm giảm cholesterol máu. Điều cần lưu ý là chất xơ trong thức ăn có làm giảm cholesterol máu hay không còn tùy thuộc vào loại chất xơ, lượng chất xơ ăn vào, mức độ tăng cholesterol máu... Thức ăn có chứa chất xơ tan như cám yến mạch, pectin, lúa mạch, đậu hạt, rau đậu, trái cây và rau có thể làm giảm được 5-10% lượng cholesterol máu, có khi tới 25%, nhưng nếu tách riêng chất xơ ra để dùng thì chỉ làm giảm được cholesterol dưới 5%.

Tác dụng quan trọng thứ ba của chất xơ thực phẩm là hỗ trợ điều trị bệnh đái tháo đường. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh một số chất xơ tan làm tinh bột lưu lại lâu trong ruột, chậm hấp thu glucose, do đó làm lượng đường trong máu không tăng cao đột ngột. Tinh bột chậm tiêu hóa còn tạo cảm giác no, góp phần làm dịu đáp ứng đường huyết. Thức ăn xay thô có tác dụng tốt hơn xay mịn và thức ăn giàu chất xơ tốt hơn là xơ chiết tinh.

Chất xơ còn tác dụng giúp điều chỉnh cân nặng. Chất xơ có tính nhớt như gôm, pectin, gel, chất nhầy sẽ tạo cảm giác no, làm giảm lượng ăn, cản trở khả năng tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng.

Dùng nhiều chất xơ có tác dụng xấu gì không?

Dùng nhiều thức ăn chứa chất xơ không gây nguy hiểm gì ngoài cảm giác tự nhiên là no đầy và đôi khi sôi bụng. Nhưng nếu dùng chất xơ dưới dạng bột khô tinh chế thì có thể gây tác dụng phụ. Người có cơ địa dị ứng hít phải bột khô của chất xơ chiết tinh có thể bị dị ứng.

Người vốn bị hẹp môn vị, dính ruột, bán tắc ruột nếu nuốt phải một lượng lớn chất xơ tan, nhất là bột khô có thể gây tắc thực quản hay tắc ruột do khả năng hút nước đóng cục. Có thể dễ dàng phòng tránh điều này bằng cách không dùng chất xơ dạng bột và uống nhiều nước sau khi dùng chất xơ.
Có nên uống thuốc sau bữa ăn có chất xơ?

Không nên uống thuốc sau bữa ăn có chất xơ vì chất xơ trong thức ăn có thể làm giảm hấp thu nhiều loại thuốc như paracetamol, các thuốc trợ tim loại digoxin hay glycoside trợ tim, calci, sắt, kẽm, đồng, salicylat (aspirin), nitrofurantoin, các dẫn chất của coumarin.

Tốt nhất, nên uống thuốc trước bữa ăn có chất xơ hơn 1 giờ, ngoại trừ thuốc chống viêm. Người không ăn được rau quả có thể bổ sung chất xơ bằng các loại thức ăn làm sẵn chế từ ngũ cốc còn lớp cám (bánh cám, bột cám rắc lên các món ăn khác, cháo gạo lứt, bánh mì đen), rau câu, xương sâm, xương xáo, hột é, mủ trôm v.v...

Cuối cùng, nên tăng từ từ lượng chất xơ ăn vào để giảm thiểu các tác dụng phụ có thể xảy ra. Người trưởng thành khỏe mạnh nên ăn ít béo, nhiều chất xơ từ nhiều nguồn (trái cây, rau, đậu hạt).

Các đối tượng sau đây cần chú ý ăn đủ chất xơ: trẻ em, phụ nữ mang thai và cho con bú, người cao tuổi và người mắc bệnh mạn tính. Chất xơ đặc biệt hữu ích cho người bệnh tiểu đường, vữa xơ động mạch, ung thư, viêm ruột thừa, loét tá tràng, bệnh tim thiếu máu, viêm túi mật, viêm loét đại tràng, bệnh Crohn, giãn tĩnh mạch, thuyên tắc tĩnh mạch sâu, thoát vị ruột. Tuy nhiên, nếu cơ thể đang trong tình trạng thiếu dinh dưỡng mà quá lạm dụng chất xơ, có thể sẽ gây tình trạng mất cân bằng khoáng chất và dinh dưỡng.

Thạc sĩ BS. LÊ HOÀNG SƠN
Trung tâm Dinh dưỡng TPHCM
(Theo Tuổi trẻ)

Thứ Năm, 13 tháng 5, 2010

Ăn Chay Như Thế Nào?

BS. Lê Thúy Tươi

Bạn có thấy rằng, con người cùng với sự phát triển của xã hội bắt đầu mắc nhiều chứng bệnh "khó trị" hơn không? Một trong những nguyên nhân chủ yếu chính là cách ăn uống của bản thân đấy.

Xã hội càng phát triển, nền văn minh hiện đại đã đạt được những thành tựu to lớn: khám phá vũ trụ, công bố bản đồ gene di truyền, công nghệ thông tin… nhưng con người ngày nay dường như mắc nhiều bệnh hơn, không thư thái và khả năng thích nghi, chống đỡ với môi trường kém. Trường phái “Thực dưỡng - Macrobiotics” sau nhiều cuộc nghiên cứu, sưu tầm đã kết luận: tổ tiên của chúng ta là những người ăn rau, củ, quả. Trong thời kỳ băng hà cuối cùng, khi rau, củ, quả khan hiếm, người ta phải ăn thịt súc vật để sinh tồn. Và thói quen ăn thịt còn đến ngày nay. Tuy nhiên, trong nhiều kỷ nguyên, người ta nhận thấy có những loại bệnh xuất hiện, gia tăng và khi người bệnh được khuyên một chế độ ăn chay, được sống trong bầu không khí vui vẻ đầm ấm thì bệnh từ thuyên giảm đến khỏi hoàn toàn. Phải chăng ăn chay có tác dụng điều trị bệnh và tác dụng thực sự của nó tới đâu?

Cơ sở khoa học

Nói riêng về hệ tiêu hóa, con người có hệ tiêu hóa giống với động vật ăn lá cây, động vật ăn cỏ và không giống với các động vật ăn thịt. Bảng so sánh dưới đây sẽ cho chúng ta có một cái nhìn tổng quát:

Bảng so sánh cho thấy: Cấu trúc bộ máy tiêu hóa của con người phù hợp với chế độ ăn rau củ, quả, ngũ cốc hơn là ăn thịt. Tất nhiên, thay vì ăn “sống” như những loài động vật ăn thịt, con người biến nó thành “chín” nhờ kỹ thuật luộc, nướng, kho, tẩm gia vị tạo sự hấp dẫn khứu giác,vị giác. Đó là lý do tại sao người ta thú vị với món thịt các loại.

Ăn thịt dễ mắc những bệnh gì?

Nếu nói cứ ăn thịt là mắc đủ thứ bệnh e là hơi quá lời. Ở đây, tôi muốn đề cập đến chuyện ăn một cách thừa thãi, không quan tâm đến tiêu chuẩn vệ sinh có thể gây ra một số bệnh:

1. Ung thư

Năm 1982, tờ Life ở Mỹ, tờ Paris Match ở Pháp và tờ Atarashiki Sêkai Ê ở Nhật Bản đều đưa tin: Bác sĩ Anthony J.Sattilaro, giám đốc một bệnh viện lớn ở Hoa kỳ bị ung thư đã di căn mà lành bệnh nhờ ăn chay. Sau đó một hội nghị khoa học gồm 8.000 bác sĩ chuyên khoa ung bướu họp tại Seatle đã thừa nhận tầm quan trọng của ăn uống trong phòng và chữa bệnh ung thư.Theo thống kê của các nhà dịch tễ học thì 30% ung thư liên qua đến thuốc lá, 35% liên quan đến ăn uống, 3% liên quan đến những phụ gia thực phẩm(màu, chất bảo quản...). Như vậy, nếu ăn uống đúng thì 35% bệnh nhân lẽ ra bị ung thư sẽ không mắc phải căn bệnh nguy hiểm này.

Tại sao ăn thịt dễ bị ung thư? Một trong những nguyên nhân cơ bản là thịt sống mau thối rữa. Để giữ cho chúng “tươi” lâu hơn, người ta đã tẩm chúng với nitrit, nitrat và các chất bảo quản khác. Khi nấu nướng, các chất này không bị phân hủy. Vào ruột, chúng kết hợp với các acid amin tạo nitrosamin là chất gây ung thư. Ngoài ra, công nghệ chăn nuôi đang sử dụng nhiều hóa chất kích thích tăng trưởng, chất gây thèm ăn, gây ngủ, hormon, kháng sinh. Heo, gà, bò, tôm, cá,... được nuôi công nghiệp làm mất đi cân bằng hóa học, mất đi thói quen tự nhiên của tổ tiên chúng, kích thích phát triển bệnh gia súc và những khối u ác tính. Khi con vật bị bệnh, bị khối u, chúng được giết mổ chứ không hẳn là được bỏ đi. Thế là chúng ta ăn những miếng thịt mà không biết chúng chứa đầy độc tố, nhẹ thì rối loạn tiêu hóa, nhưng tiềm ẩn là chất độc lưu giữ làm biến đổi cấu trúc tế bào và gây ung thư. Ăn thịt nhưng lại ít ăn rau dễ sinh táo bón, ứ đọng chất độc, cũng góp phần phát triển ung thư. Điều này giải thích tại sao cư dân vùng Bắc Mỹ và Tây Âu bị ung thư đại tràng, ung thư dạ dày cao hơn cư dân ăn chay (Ấn Độ). Ở những nước ăn nhiều thịt, số phụ nữ bị ung thư vú cũng cao gấp 10 lần ở những nước có thói quen ăn chay.

2. Bệnh tim mạch

Ở các nước phát triển, bệnh tim mạch được coi là “kẻ giết người số 1”. Nước Mỹ là nước tiêu thụ nhiều thịt thì cứ hai người chết đã có một người tử vong vì tim mạch. Các nhà khoa học ở trường Đại học Harvard kiểm tra huyết áp của hàng loạt người thì thấy huyết áp trung bình của người ăn chay giảm rất có ý nghĩa so với những người ăn thịt. Lượng cholesterol trong máu của người ăn thịt cao gấp nhiều lần người ăn chay là nguyên nhân chính của chứng xơ vữa động mạch, cao huyết áp, đột quỵ, nhồi máu cơ tim... Hội tim mạch Hoa Kỳ đã công bố rằng: Một chế độ ăn chay có thể phòng ngừa từ 90-97% các bệnh tim mạch.

3. Bệnh tiểu đường type II

Chế độ ăn nhiều thịt lẫn mỡ, ăn nhiều đường tinh khiết làm tăng acid béo và triglycerid là nguyên nhân gây ra tiểu đường type II.Sở dĩ như vậy vì các acid béo, triglycerid ức chế hoạt động của insulin nên xét nghiệm lượng insulin trong máu có thể bình thường hoặc hơi tăng nhưng đường huyết vẫn cao. Bệnh tiểu đường type II cũng như bệnh tim mạch, khi chuyển sang chế độ ăn chay thì lượng đường trong máu giảm hẳn.

4. Bệnh thận

Các cuộc nghiên cứu cho thấy, thận của người ăn thịt phải làm việc gấp 3 lần thận của người ăn chay để bài tiết các hợp chất nitơ độc hại. Trong số các chất thải của thịt, đáng chú ý là urê và acid uric. Khi còn trẻ, thận còn “sung sức” nhưng khi lớn tuổi, thận kiệt sức, không thể thải độc hiệu quả sẽ dẫn đến bệnh.

5. Bệnh gout (thống phong)

Khi thận không đủ khả năng thải hết các sản phẩm chứa nitơ độc hại thì làm xét nghiệm chúng ta thấy creatinin và acid uric tăng cao. Acid uric không được bài tiết, đọng lại trong các khớp nhỏ(khớp ngón) gây đau nhức. Bệnh này dường như độc quyền dành cho đàn ông. Nơi đây, acid uric đọng lại thành tinh thể tạo ra phản ứng viêm, đau nhức ghê gớm đặc biệt với những ông ham nhậu. Buổi tối 50%, 100% cùng chiến hữu, chia tay nhau chếnh choáng hơi men còn ca đủ sáu câu vọng cổ, về nhà lăn ra ngủ, nhưng khoảng 3-4 giờ sáng đã thấy khớp ngón chân sưng lên nhức nhối tưởng như không thể chịu đựng được. Ở phụ nữ, sản phẩm thừa trong quá trình chuyển hóa của thịt ngấm vào làm thay đổi sụn bao khớp khiến chúng trở nên lởm chởm, khi di chuyển sẽ đau, nhiều người cứ nằm rên, rồi rơi vào trầm cảm.

6. Béo phì

Béo phì 95% do chế độ ăn quá dư thừa, các loại thức ăn chứa nhiều calorie: mỡ động vật, thực phẩm nhiều đường, bơ, phô-mai, chocolate, thịt... Người béo phì thường lười vận động nên năng lượng thừa không được tiêu hao lại tích trữ dưới dạng mỡ, thúc đẩy quá trình tăng cân. Béo phì gây ra hậu quả trầm trọng trên tim mạch, nội tiết, xương khớp và tâm lý. Ở những nước phát triển số lượng người béo phì đang gia tăng nhanh chóng khiến tổ chức y tế gọi là “Đại dịch” hay "Những bệnh mãn tính không lây”.

7. Bệnh gan

Gan là cơ quan vừa tổng hợp các chất, vừa có tác dụng thải độc. Một chế độ ăn nhiều thịt và mỡ động vật sẽ làm gan quá tải, sinh bệnh. Những lần ngộ độc thịt, rối loạn tiêu hóa,… đều làm gan phải làm việc cật lực để thải độc. Dần dần gan suy yếu, nhiễm mỡ, xơ hóa và khi bạn xét nghiệm sẽ thấy rối loạn chuyển hóa (tăng cholesterol, triglycerid, tăng men gan SGOT, SGPT). Một số chất độc không được đào thải là nguyên nhân gây bệnh dị ứng (chúng ta thường thấy nổi mẩn, ngứa sau bữa ăn)

8. Rối loạn trí óc và cảm xúc

Ăn nhiều thịt động vật, lượng urê tăng lên, những sản phẩm của quá trình thối rữa thịt lên não dẫn tới sự suy nghĩ kém đi. Sự lờ đờ về trí tuệ dẫn đến rối loạn cảm xúc.

Ăn chay - nên ăn gì?

Ăn chay (vegetare) không phải bao hàm chỉ ăn rau mà theo từ ngữ Latinh còn có nghĩa là “sống động”. Chúng ta ăn gạo còn nguyên vỏ cám (gạo lức), các loại đậu (đặc biệt là đậu nành), ăn nhiều rau xanh, trái cây. Ăn chay tức là chúng ta trở về với thiên nhiên, phù hợp với cấu trúc cơ thể. Tất nhiên ăn chay cũng phải đảm bảo vệ sinh mới có tác dụng phòng ngừa bệnh.

Có đủ dinh dưỡng không nếu bạn ăn chay? Câu trả lời là đủ. Thực tế bạn đã và đang ăn một lượng thịt nhiều hơn nhu cầu của cơ thể. Nhưng phải chăng protein trong rau quả, củ kém hơn protein trong thịt? Cũng không. Đậu nành chứa lượng protein gấp 2 lần protein trong thịt và có đầy đủ các acid amin cần thiết. Trong đậu nành còn chứa lecithin-chất tạo ra sự thanh xuân thần kỳ. Các loại ngũ cốc và rau cũng chứa protein. Các vitamin, các nguyên tố vi lượng (canxi, ma-giê, sắt, kẽm,...) có đầy đủ trong rau, củ, quả.

Nên ăn như thế nào?

Gạo lức thì dễ rồi, bạn thấy chợ nào cũng bán. Trái cây, bạn nên chọn những trái gọt vỏ để tránh dư lượng thuốc trừ sâu. Rau xanh phải chọn rau sạch. Đậu nành và những sản phẩm chế biến như: đậu hũ, sữa đậu nành, tương,… khắp nơi đều có. Mỗi bữa chúng ta ăn như thế nào?

• Đừng ăn quá nhiều: Hãy ngừng ăn khi mất cảm giác đói. Nếu ăn quá no nê, hệ tiêu hóa phải làm việc nhiều, thức ăn bị tiêu hóa nửa vời sẽ sinh ra sản phẩm độc.

• Ăn trong tâm trạng thoải mái, vui vẻ: tiếng cười, sự thanh thản giúp cho tiêu hóa tốt.

• Nhai kỹ thức ăn: khi phân tích phân của nhiều dân tộc, các nhà khoa học nhận thấy còn quá nhiều sản phẩm tiêu hóa dở dang. Đó là do thói quen ăn nhanh, ăn vội.

• Tránh ăn về đêm: nếu bạn đi ngủ với cái bao tử đầy tạo ra trạng thái “ậm ạch”, khó ngủ và nếu ngủ được cũng không yên giấc. Đó là chưa kể những chất trong quá trình tiêu hóa sinh ra sẽ tác động lên não tạo những giấc mơ kinh dị.

• Hạn chế các loại thức ăn có đường, đặc biệt là đường trắng và các thành phẩm của nó (bánh, mứt, kẹo)

Nếu bạn đồng ý rằng nên ăn chay thì cũng không cần “đùng đùng” rũ bỏ chế độ ăn thịt. Cứ tiến hành từ từ và khi nhận ra rằng nó có ích cho sức khỏe thì hãy chuyển hẳn. Nhiều bạn lúc đầu ăn chay 50% còn lại là thịt (thịt tươi và nạc) cũng không sao.

nguồn: http://www.tangthuphathoc.com/chay/anchaynhuthenao.htm

Chủ Nhật, 9 tháng 5, 2010

SÁNG XOA MẶT, TỐI XOA CHÂN

Một phương pháp tự phòng bệnh và chữa bệnh


Phương pháp này có thể áp dụng cho tất cả mọi người để giữ gìn sức khỏe. Như chúng ta biết bộ mặt, vành tai, bàn tay, bàn chân, lưng, ngực là những cơ quan phản ánh toàn bộ tình trạng cơ thể, do đó nếu mỗi sáng và tối, các bạn chịu khó xoa mặt, mũi, chân tay như hướng dẫn dưới đây thì chắc chắn sẽ phòng ngừa hoặc giảm được bệnh tật. Quan trọng là cần thực hiện một cách nghiêm túc, đều đặn mỗi ngày.

A. Sáng xoa mặt

Có 8 động tác, mỗi động tác xoa từ nửa phút đến một phút (30-60 lần). Sáng sớm vừa ngủ dậy, trước khi xuống giường, xoa 2 tay vào nhau cho nóng rồi làm 8 động tác sau đây:

1. Xoa hai ổ mắt: Úp 2 cườm tay lên 2 ổ mắt (tay chạm xung quanh mắt, gờ xương, không đè mạnh vào mắt), xoa vòng quanh mắt cho đủ 30 lần. Công dụng: làm cho mắt tinh và sáng, khai thông khí huyết, đỡ mệt mỏi, nhức tê 2 tay.

2. Xoa mũi: Có 2 động tác. Ðặt 2 ngón tay trỏ miết vào 2 cạnh bên mũi lên tới cạnh mắt 30 lần. Sau đó chập 2 ngón tay cái và trỏ vuốt từ trên đầu sống mũi xuống 30 lần. Công dụng: Làm cuống phổi, cuống họng, lá mía, sống lưng, mông, háng khỏe lên. Ðặc biệt động tác miết ngược từ 2 cánh mũi lên mắt còn chữa được bệnh sa tử cung ở phụ nữ, có tác dụng cường dương đối với nam giới.

3. Xoa má: Dùng 2 tay xoa toàn bộ má mỗi bên 30 lần. Công dụng: Làm cho toàn bộ xương sườn, cánh lưng, thần kinh sườn, hai lá phổi, gan, mật, dạ dày được thông thoáng.

4. Xoa tai: Dùng 2 ngón tay cái để sau 2 tai, các ngón còn lại để ở phía trước tai rồi xoa vành tai và toàn bộ tai mỗi bên 30 lần. Công dụng: Trị tai ù, tai điếc... Ngoài ra còn trị được nhiều bệnh ngoại vị và nội tạng của cơ thể.

5. Xoa trán: Úp bàn tay xoa toàn bộ trán, mỗi tay xoa 30 lần. Công dụng: Chữa các bệnh thuộc lục phủ ngũ tạng.

6. Xoa miệng, cằm: Dùng cả bàn tay xoa toàn miệng cằm, mỗi tay xoa 30 lần. Công dụng: Chữa các bệnh thuộc lục phủ ngũ tạng.

7. Cào trên đầu: Lấy 10 đầu ngón tay của 2 bàn tay cào từ trước đầu ra sau, xong từ đỉnh tai kéo ra sau ót 30-60 lần. Công dụng: Giúp máu lưu thông lên não, chữa đau mỏi toàn thân, tốt cho hệ thần kinh não bộ, đặc biệt đối với chân tay người liệt.

8. Xoa sau ót: Dùng cả bàn tay xoa sau gáy và ót, mỗi tay xoa 30 lần. Công dụng: Tăng sức chịu đựng của toàn bộ cơ thể.

Tóm lại: Xoa mặt buổi sáng có 4 tác dụng: Giúp khí huyết lưu thông toàn bộ cơ thể; Da dẻ mịn màng, đẹp đẽ; Làm tiêu nám, mụn trên da mặt; Giúp mắt tinh, tai thính, tỉnh táo, dễ chịu...

Chú ý: Sau khi thực hiện xong khoảng 5 phút nên rửa mặt bằng khăn bông nhúng nước ấm, rồi dùng khăn chà sát kỹ mặt, cổ, gáy, nếu nguội có thể nhúng tiếp nước ấm. Ðây là động tác bổ sung cho cách xoa mặt bằng tay nói trên để đạt hiệu quả tốt hơn.

B. Tối xoa chân

Ngược lại với xoa mặt, các bạn nên xoa chân vào buổi tối trước khi đi ngủ. Thực hiện 6 động tác sau:

Ðộng tác 1: Ngồi trên sàn, bàn chân trái đặt lên đầu gối chân phải. Bàn tay trái để lên mu bàn chân, bàn tay phải đặt dưới lòng bàn chân. Sau đó vuốt nhẹ bàn chân. Ðổi chân và lặp lại động tác này.

Ðộng tác 2: Ðặt cổ chân trái lên đầu gối phải. Dùng ngón tay cái ấn nhẹ và xoa đều lên phần mặt trong của gót chân.

Ðộng tác 3: Ngón tay cái đặt phía dưới lòng bàn chân, sau đó ấn và vuốt nhẹ theo đường rãnh giữa những ngón chân.

Ðộng tác 4: Dùng ngón cái của bàn tay trái ấn và miết nhẹ cho đến ngón cái của bàn chân.

Ðộng tác 5: Ðặt bàn chân trái lên đầu gối và kéo mũi chân hơi chúi xuống đất. Dùng ngón tay cái xoa lòng bàn chân thành hình những vòng tròn nhỏ.

Ðộng tác 6: Nắm lấy những ngón chân, bóp và vuốt nhẹ.

Sau đó lặp lại động tác 1. Trong suốt quá trình thực hiện các động tác đừng quên thoa một ít dầu massage.

Trong khi thực hiện các động tác sáng xoa mặt, tối xoa chân nói trên, hãy cố gắng tìm những chỗ đau thốn, khó chịu nhất trên mặt, chân và day ấn chỗ đó nhiều hơn (trừ trường hợp là mụn đầu bạc hay sưng tấy). Day từ nhẹ tới mạnh đến khi nào hết đau mới thôi (nếu cần có thể làm mỗi ngày vài lần). Ðây là những bí quyết rất đơn giản nhưng hữu hiệu vì các điểm đau thốn trên da là những sinh huyệt báo hiệu bệnh sắp hay đang xảy ra. Day ấn các điểm trên sẽ giúp cơ thể tự điều chỉnh làm lành bệnh một cách tự nhiên.

Theo SK&ĐS
(sưu tầm)